Giải quyết tranh chấp lao động

Đăng lúc: Thứ năm - 25/10/2012 09:49 - Người đăng bài viết: Luật Gia Trịnh
Giải quyết tranh chấp lao động
Quan hệ lao động giữa doanh nghiệp (người sử dụng lao động) và người lao động thường tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tranh chấp vì các bên có lợi ích đối lập nhau. Để theo đuổi con đường khởi kiện một vụ án lao động là việc làm không hề đơn giản. Chính vì vậy, khi tranh chấp xảy ra vai trò của luật sư vô cùng quan trọng. Luật Gia Trịnh với đội ngũ luật sư chuyên nghiệp sẽ tư vấn, hướng dẫn, phân tích pháp lý cũng như đại diện cho khách hàng tham gia hòa giải tranh chấp lao động hoặc tham gia tố tụng tại phiên tòa nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng.
  1. Những tranh chấp lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
  1. Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động mà Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, hoà giải viên lao động của cơ quan quản lý nhà nước về lao động quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh hoà giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hoà giải không thành hoặc không hoà giải trong thời hạn do pháp luật quy định, trừ các tranh chấp sau đây không nhất thiết phải qua hoà giải tại cơ sở:
  • Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
  • Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động và người sử dụng lao động; về trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
  • Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
  • Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về lao động;
  • Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
  1. Tranh chấp lao động tập thể về quyền giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết mà tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động không đồng ý với quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc quá thời hạn mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh không giải quyết.
  2. Các tranh chấp khác về lao động mà pháp luật có quy định.
  1. Thời hiệu giải quyết tranh chấp lao động
  1. Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân được quy định tại Điều 167 Bộ Luật lao động:
  • Một năm, kể từ ngày xảy ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích của mình bị vi phạm đối với các tranh chấp lao động sau:
+ Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
+ Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
+ Tranh chấp giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
  • Một năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích của mình bị vi phạm đối với tranh chấp giữa người lao động đã nghỉ việc theo chế độ với người sử dụng lao động hoặc với cơ quan bảo hiểm xã hội, giữa người sử dụng lao động với cơ quan bảo hiểm xã hội.
  • Ba năm, kể từ ngày xảy ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích của mình bị vi phạm đối với tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
  • Sáu tháng, kể từ ngày xảy ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích của mình bị vi phạm đối với các loại tranh chấp khác.
  1. Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể là một năm, kể từ ngày xảy ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích của mình bị vi phạm (Điều 171a Bộ luật lao động).
  1. Thẩm quyền giải quyết
  1. Thẩm quyền Tòa án theo cấp
  • Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp lao động cá nhân.
  • Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền giải quyết:
+ Tranh chấp lao động tập thể về quyền.
+ Tranh chấp lao động cá nhân mà đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài.
  1. Thẩm quyền Tòa án theo lãnh thổ
  • Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức;
  • Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp lao động.
  1. Thẩm quyền Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn
  • Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;
  • Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;
  • Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;
  • Nếu tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi người sử dụng lao động là chủ chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò trung gian cư trú, làm việc giải quyết;
  • Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết.
* Chú ý: Điều 32a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự (năm 2011) còn quy định thẩm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức nh­ư sau:
“1. Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, ngư­ời có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đ­ương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết. Trong tr­ờng hợp này, cơ quan, tổ chức, ng­ười có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng.
2. Tr­ờng hợp vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định cá biệt bị yêu cầu hủy quy định tại khoản 1 Điều này, thì quyết định cá biệt đó đ­ược Tòa án xem xét trong cùng vụ việc dân sự. Thẩm quyền của cấp Tòa án giải quyết vụ việc dân sự đó đ­ược xác định theo quy định tại Điều 29 và Điều 30 của Luật tố tụng hành chính”.
Mọi thông tin vui lòng liên hệ: 04.8589.2377 hoặc 0916.674.386 hoặc gửi yêu cầu về địa chỉ Email: luatgiatrinh@gmail.com
 
Tác giả bài viết: Luật Gia Trịnh
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Giải quyết tranh chấp lao động Giải quyết tranh chấp lao động
0 5 0

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spam Thay mới     

 

Tìm kiếm

Ví dụ: Văn bản pháp luật, thành lập doanh nghiệp
RSS

Tin liên quan

RSS

Tư vấn hôn nhân thừa kế

RSS

Toà tuyên án

Vụ án hành chính

Vụ án hành chính

Đã xem: 1083
05/11/2012
Vị đắng của ma túy

Vị đắng của ma túy

Đã xem: 886
05/11/2012
RSS

Tư vấn đất đai

RSS

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 3
  • Khách viếng thăm: 2
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 879
  • Tháng hiện tại: 2926
  • Tổng lượt truy cập: 518170
Luật Gia Trịnh Tư vấn 24/24
Tư vấn pháp luật 24h/7
Gọi: 0978 631 644
Yahoo! Messenger: luatgiatrinhvn
Tư vấn hỗ trợ trực tuyến 24h/7
Gọi: 0916 674 386
Yahoo! Messenger: luatgiatrinhvn